Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Tư liệu Giáo dục

Khuê Văn Các ( Hà Nội)

Nguồn: Anh Chup
Người gửi: Nguyễn Lương Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 12h:27' 09-07-2007
Dung lượng: 13.1 KB
Số lượt tải: 28
Mô tả: Sử dụng trong tiết dạy Lịch sử địa phương (Hà Nội)
Số lượt thích: 0 người
No_avatar

Mái phố



Yêu thương là lòng anh
Bao dung là mái phố
Sinh ở đây thuở nhỏ
Lớn lên tôi đi xa
Trời khi nắng khi mưa
Lại nhớ về mái phố

Ơi cái màu ngói cổ
Màu áo mẹ gian lao
Những nét thấp đường cao
Tình yêu không bình lặng!

"Mái buồn nghe sấu rụng" (1)
Cám ơn người làm thơ
Đã đem lòng người xa
Trờ về bên mái phố

Từ những ngày gian khổ
Từ lửa táp bom rơi
Tôi nghĩ về phố tôi
Thấy sao mà vững dạ

Tôi về trong mái nhỏ
Sau mỗi lần gian nan
Như tìm đến bên anh
Sau mỗi niềm cay đắng

Dưới mái nhà thầm lặng
Nghe nắng trời ngoài ô
Nghe gió mạnh về xô
Niềm xạc xào của lá

Nghe hạt mưa nho nhỏ
Từng động lòng tuổi thơ (2)
Nghe rét mướt tràn về
Và ngừng trên mái phố.

Đã quen nhiều gian khổ
Đã quen nhiều hy sinh
Yêu thương là lòng anh
Bao dung là mái phố

-------------------

No_avatar
Ngọ Môn- biểu tượng vĩnh hằng của Cố đô
11:07' 25/08/2005 (GMT+7)

 Ở VN, có lẽ không có nhiều nơi như Huế có được sự giàu có về biểu tượng văn hóa vùng đất. Riêng với Ngọ Môn, người xưa đã xem công trình này là một kiệt phẩm, xứng đáng để tham dự vào vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời.

Tháp Phước Duyên chùa Thiên Mụ

Ở Việt Nam, có lẽ không có nhiều nơi như Huế có được sự giàu có về biểu tượng văn hóa vùng đất, thậm chí có những nơi người ta không thể tìm ra biểu tượng riêng cho mình. Nhưng ở Huế thì khác. Có sông Hương, núi Ngự; có chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, và đặc biệt là Ngọ Môn... tất cả đều có thể xem là biểu tượng của vùng đất này. Nếu không kể sông Hương-núi Ngự là những thực thể tự nhiên, thì cầu Trường Tiền, tháp Phước Duyên, cửa Ngọ Môn là những biểu tượng văn hóa có ý nghĩa rất độc đáo.

Tháp Phước Duyên là biểu trưng của cõi phật, là thế giới thiền. Bởi Huế từng nổi danh là Thiền kinh-kinh đô của Phật giáo trong nhiều thế kỷ.

Cửa Ngọ Môn là biểu tượng của chốn cung đình, của văn hoá cung đình mà Huế với tư cách là đất Thần kinh cũng tồn tại trong hàng thế kỷ.

Cầu Trường Tiền, dù đã có trên trăm năm tuổi, là biểu tượng của văn minh hiện đại, đồng thời là nhịp nối uyển chuyển giữa quá khứ với hiện tại, giữa cổ-kim, xưa-nay..

Ngọ Môn

Ngọ Môn 5 cửa. Cầu 6 vài (vì). Tháp 7 tầng. Các con số 5-6-7 (tổng là 18)-theo quan niệm Đông phương thì thật đẹp và là biểu trưng của sự hoàn hảo. Có lẽ chỉ ở Huế mới có sự kết hợp tuyệt vời giữa các biểu tượng như vậy. Với con mắt tinh đời, nguyên Tổng giám đốc Unesco M’Bow đã nhận ra điều đó: “Huế thực hiện được sự tổng hợp giữa đạo và đời trong kiến trúc, tổng hợp được cổ xưa và hiện đại; qua đó cố đô cổ kính chung sống với thành phố trẻ ngày nay”.[1]

Riêng đối với Ngọ Môn, người xưa đã xem công trình này là một kiệt phẩm, xứng đáng để tham dự vào vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời -tức Thiên-Địa, để tạo thành sự “Thái Hoà” tuyệt diệu mà không chút mặc cảm. Bài thơ khắc trên Ngọ Môn đã nói lên niềm tự hào ấy:

Bất đãi trùng môn khai, Tạm dịch:Cửa cung không đợi mở, Dĩ vô nhất ẩn xứ. Bởi cần giấu diếm chi.

Nghiên sy khả thị nhân, Xấu đẹp đều phô bày

Động triệt kham gia nhữ Làm đẹp thêm người thay!

I.Việc xây dựng

Thường là khi xây dựng một căn nhà, chiếc cửa bao giờ cũng được làm sau cùng để người ta có dịp chỉnh trang, trau chuốt cho hợp ý nhất cái đóng-mở của nơi mà mình cư ngụ, gắn bó suốt cả cuộc đời, thậm chí là rất nhiều đời, nhiều thế hệ. Ngọ Môn cũng vậy. Chiếc cửa này được xây dựng sau khi hoàng đế Minh Mạng hoàn chỉnh việc quy hoạch, sắp xếp lại toàn bộ Hoàng Thành và Tử Cấm Thành, một công cuộc đã được thực hiện từ trước đó hơn chục năm (2). Việc xây dựng Ngọ Môn được khởi công vào năm Minh Mạng thứ 14 (1833), sau khi triệt hạ Nam Khuyết Đài và điện Càn Nguyên ở bên trên (3). Thự Thượng thư Bộ Binh Lê Văn Đức, vị đại thần sau này đã có công lao lớn trong việc tìm ra cuộc đất để xây dựng Hiếu lăng, được chỉ định làm người chỉ huy công trường. Một khối lượng khổng lồ gạch, đá, ngói, gỗ, vôi, mật và cả xà đồng, đinh sắt đã được huy động để xây dựng chiếc cửa lớn nhất của hoàng cung. Chất lượng xây dựng Ngọ Môn cũng được xếp vào hàng đặc biệt. Vữa xây được gia thêm rất nhiều mật so với bình thường (4). Triều đình còn cho chi cả dầu trẩu để làm keo dán ghép các lớp gạch đá bên ngoài để tăng độ bền vững và tính mỹ thuật của công trình. Riêng tại 3 chiếc cửa vòm cuốn chính giữa trổ xuyên qua nền đài, các xà đồng lớn đã được dùng để gia cường sức chịu lực, một việc chưa hề có tiền lệ trong xây dựng trước đó (5).

Chính sự đầu tư lớn lao đó đã tạo nên một Ngọ Môn tuyệt vời, một chiếc cửa đẹp chưa từng có! Và điều đặc biệt là dù trải qua hơn 170 năm lịch sử với bao biến động thăng trầm của cố đô, Ngọ Môn vẫn tồn tại vững vàng, hiên ngang như thuở ban đầu nhờ sự quan tâm chăm sóc đặc biệt của những thế hệ người Huế và cả bạn bè bốn phương (6).

II.Cấu trúc Ngọ Môn

Ngọ Môn- Huế

Ngọ Môn là một chiếc cửa đặc biệt, bởi nó không đơn thuần là một chiếc cửa thành mà còn là một lễ đài quan trọng bậc nhất của triều Nguyễn. Cấu trúc của Ngọ Môn, vì vậy cũng rất đặc biệt.

Trên nền Nam Khuyết Đài xưa, triều Nguyễn đã cho xây dựng một chiếc cửa thành mới là Ngọ Môn với bình diện thoáng nhìn ngỡ như tương tự. Nhưng trên thực tế, cấu trúc của Ngọ Môn khác xa Nam Khuyết Đài! Hiện nay ba mặt Đông-Tây-Bắc của Hoàng thành Huế vẫn còn các khuyết đài. Đó là những cấu trúc được đặt lồi hẳn ra bên ngoài tường thành và không có cửa trổ xuyên qua. Có lẽ Nam Khuyết Đài cũng có bình diện tương tự các khuyết đài này nhưng lại có trổ 2 cửa ở hai bên, mang tên là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn. Ngọ Môn, trái lại, cấu trúc cũng được đặt lồi ra phía ngoài tường thành nhưng lại tạo nên một hình chữ U với phần bụng-lõm đặt hướng ra phía ngoài. Cấu trúc này khiến nhiều người liên tưởng đó là một vòng tay rộng mở để đón khách muôn phương... Nhưng điểm khác nhau quan trọng nhất giữa Đoan Môn và Ngọ Môn là cấu tạo và ý nghĩa của hai công trình này. Theo quy chế thành trì Trung Hoa được quy định trong Khảo Công Ký, Đoan Môn với 2 lối đi trổ hai bên chỉ là chiếc cửa dành cho Chư hầu, còn Ngọ Môn với 5 lối đi thực sự là chiếc cửa của bậc hoàng đế (7)!

Về mặt cấu trúc, có thể chia tổng thể kiến trúc Ngọ Môn làm 2 phần chính: phần nền đài với 5 chiếc cửa trổ xuyên qua và phần lầu Ngũ Phụng-một công trình đồ sộ được đặt ngay trên phần nền đài này.

No_avatar

II.1. Phần nền đài

Ngọ Môn Huế

Đây thực sự là một chiếc đài cao, xây vượt lên trên mặt nền chung khoảng hơn 5m. Bình diện đài có hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,96m và mỗi cánh dài 27,50m8, diện tích tổng cộng mặt nền chừng 1.400m2. Vật liệu xây dựng đài chủ yếu là gạch vồ, đá thanh và vữa tam hợp cùng những thanh đồng thau dùng làm xà chịu lực ở trên 3 cửa giữa. Trổ xuyên qua thân đài là 5 chiếc cửa, trong đó có 3 cửa ở giữa đặt song song với nhau, là Ngọ Môn (chính giữa), Tả Giáp Môn (bên trái) và Hữu Giáp Môn (bên phải). Hai cửa bên được trổ xuyên qua lòng mỗi cánh chữ U nên cũng có hình gấp khúc tựa những đường hầm chạy xuyên suốt từ trong ra ngoài, đoạn chính song song với 3 cửa ở giữa nhưng khi ra hết cánh chữ U thì bẻ thẳng góc vào phía trục chung của hoàng cung, toàn bộ chiều dài của đường hầm này khoảng 25m. Hai cửa bên này được gọi là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn. Điểm đặc biệt của 2 chiếc cửa có lối đi hình chữ L này là mỗi cửa đều được bố trí thêm một cửa sổ hình tròn trang trí hình chữ thọ cách điệu trên bức tường ngoài thân đài. Mỗi cửa sổ này có đường kính 87cm, được đặt chéo một góc 300, tương ứng với đoạn bẻ vuông góc của lối đi, nhằm tăng cường thêm ánh sáng cho đường hầm.Phía trên của 5 lối đi này đều xây kiểu vòm cuốn, phần lớn ốp bằng đá thanh, riêng ở hai đầu ba lối đi giữa thì có những hệ thống xà đồng hình khối chữ nhật đặt ngang dọc, tiết diện xà, loại lớn khoảng 16cm x 13cm, loại nhỏ khoảng 13cm x 8,5cm; mỗi xà dài từ 2,3m đến 5,4m. Đây là hệ thống xà nhằm gia cường khả năng chịu lực của thân đài, bởi bên trên nó còn có cả hệ thống kiến trúc đồ sộ của lầu Ngũ Phụng. Cách bố trí hệ thống xà đồng này căn cứ vào vị trí chịu lực của thân đài, chủ yếu là các vị trí đặt hệ thống cột trụ ngoài của lầu Ngũ Phụng. Theo thống kê của nhà nghiên cứu Phan Thuận An, cửa giữa có 24 thanh xà đồng, hai cửa bên mỗi cửa có 23 thanh, tổng cộng có 70 thanh (9). Bên ngoài các thanh xà đồng này có bọc một lớp đồng dát mỏng và được mài bóng qua thời gian. Phía trước cửa chính giữa, ở phía trên có một ô hộc hình chữ nhật, trong gắn hai chữ Hán lớn “Ngọ Môn”. Tương truyền các chữ này vốn được bọc vàng, nhưng nay chỉ thấy hai chữ bằng đồng (10)...

Về kích thước của các cửa của Ngọ Môn, sách Khâm định Đại Nam hội điểnsự lệ (KĐ ĐNHĐSL) của Nội Các triều Nguyễn có ghi rõ:

"Cửa xây bằng gạch đá, cửa giữa cao 1 trượng 3 thước 3 tấc, rộng 8 thước 2 tấc; 2 cửa Tả Hữu giáp môn đều cao 1 trượng 2 thước 4 tấc 5 phân, rộng 6 thước 3 tấc; 2 cửa Tả Hữu Dịch Môn đều cao 7 thước 6 tấc, rộng 6 thước 3 tấc; chiều cao tổng thể của cửa từ mặt nền lên là 1 trượng 4 thước 9 tấc"(11).

Hệ thống bậc cấp để từ mặt đất đi lên nền đài được bố trí ở hai bên thân đài và nằm hẳn về phía sau. Đây cũng là phần được bố trí lùi vào phía trong so với bức tường trước của Hoàng thành, phần này rộng 5,25m. Cách bố trí này thật khéo và hầu như không ảnh hưởng đến hình khối của thân đài. Mỗi hệ thống bậc cấp gồm 21 bậc, làm hoàn toàn bằng đá thanh, mỗi bậc cao 22cm. Quanh trên nền đài là hệ thống nữ tường (lan can) được trang trí bằng nhiều kiểu gạch hoa đúc rỗng tráng men màu.

II.2. Hệ thống lầu Ngũ Phụng

Gọi là lầu Ngũ Phụng vì toà nhà được ví như 5 con chim phụng hoàng đang đậu liền nhau. Tất nhiên đây chỉ là cách gọi hình tượng lấy từ điển tích xưa, còn trên thực tế lầu Ngũ Phụng là cả một tổ hợp kiến trúc gồm 9 chiếc lầu được ghép nối tiếp liền mạch với nhau. Ca dao của Huế có câu:

"Ngọ Môn năm cửa chín lầu,

Một lầu vàng tám lầu xanh ba cửa thẳng hai cửa quanh.."

Qủa là đã mô tả thật chính xác và sinh động cấu trúc của lầu Ngũ Phụng. Chín ngôi lầu này đều gồm hai tầng, kiểu thức khá đồng nhất dù quy mô khác nhau. Xét về thực chất, Ngũ Phụng Lâu gồm 5 toà lầu chính và 4 toà lầu phụ, chia thành 3 dãy xếp thẳng góc với nhau trong đó dãy chính là phần giữa, tức nằm ngay đáy chữ U. Trong dãy chính giữa này, phần trung tâm là một toà lầu kiểu 3 gian 2 chái có chiều cao vượt hẳn so với các ngôi lầu còn lại; nối qua hai bên là 2 dãy lầu phụ, thực chất là những đoạn hành lang được nâng cấp để tương xứng với ngôi lầu. Hai dãy hai bên cánh, mỗi dãy gồm 2 toà lầu chính và 1 toà lầu phụ,ồ thực chất lầu phụ này cũng là những hành lang được nâng cấp. Toàn bộ 9 toà lầu này được liên kết với nhau hết sức khéo léo từ hệ thống khung nhà đến mái lợp. Trong 9 toà lầu này chỉ duy nhất có toà lầu chính giữa lợp bằng ngói ống màu vàng-tức ngói hoàng lưu li, 8 toà còn lại mái đều lợp ngói thanh lưu li màu xanh; vì vậy mà Ngọ Môn mới có “một lầu vàng 8 lầu xanh”.

Lầu Ngũ Phụng được dựng trên một cái nền cao 1,14m xây ngaytrên phần nền đài (vốn đã cao hơn 5m). Toàn bộ phần nền nhà này được xây bó vỉa rất chắc chắn bằng gạch vồ và đá thanh, mặt nền lát gạch hoa xi măng kiểu Pháp (vốn xưa lát gạch Bát Tràng tráng men).

Bộ khung của lầu Ngũ Phụng gồm chẳn tròn 100 cây cột, đều làm bằng gỗ lim được sơn son thếp vàng, trong đó có 48 cây cột phía trong ăn xuyên qua cả hai tầng. Hệ thống cột và bộ khung gỗ đủ chắn chắn để đở toàn bộ 9 bộ mái khá lớn của ngôi lầu này và hầu như chưa từng bị gió bão xô ngã, kể cả cơn bảo năm Thìn (1904) làm gãy cả cầu Trường Tiền. Con số 100 cây cột cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập. Phan Thuận An cho rằng, đó là tổng của Hà Đồ và Lạc Thư trong Kinh Dịch, biểu hiện của sự hài hoà “âm dương nhất thể”12; Liễu Thượng Văn thì kiến giải đó là biểu trưng của sức mạnh trăm họ (bách tính), biểu hiện của tư tưởng “dân vi bản” của các vua triều Nguyễn (13).

Tầng lầu bên dưới của Ngũ Phụng Lâu phần lớn đều để trống, chỉ trừ tòa nhà chính giữa là có hệ thống cửa- kiểu “thượng kính hạ bản” ở mặt trước và che ván vách ở các mặt còn lại để bảo đảm cho sự kín đáo của nơi thiết ngự tọa mỗi khi vua ngồi dự lễ. ở hai cánh hai bên, theo nguyên tắc truyền thống “tả chung, hữu cổ”, gian ở góc bên trái cánh chữ U đặt chuông, gian ở góc bên phải đặt trống. Chiếc trống hiện nay là chiếc trống đã được phục chế, còn chiếc chuông hiện còn vẫn là chiếc chuông nguyên thuỷ, cao gần 4 thước (1,8m), nặng 1.359 cân (815kg), do vua Minh Mạng sai đúc vào năm 1822 (14). Trái lại ở tầng trên thì che chắn kín, mặt trước lầu giữa dựng cửa lá sách, chung quanh dựng ván, nhưng có trổ nhiều cửa sổ với kiểu dạng khá phong phú, như hình tròn, hình rẻ quạt, hình chiếc khánh...

Chính hệ thống các cửa sổ này cùng với hệ thống lan can con tiện bằng gỗ ở tầng lầu trên và lan can bằng gạch hoa đúc rỗng ở nữ tường quanh nền đài làm cho tổng thể kiến trúc Ngọ Môn trở nên nhẹ nhàng, thanh tú. Hoạ sĩ Phạm Đăng Trí đã có một nhận xét thật tinh tế:

"Các bao lơn và lan can bằng gỗ chạy vòng quanh lầu gợi ta nhớ đến một chuổi hạt huyền, làm nổi bật lên các cánh cửa chạm trổ của toà lầu chính giữa và các cửa sổ dạng mặt nguyệt, chiếc quạt, cái khánh..của mặt sau các toà lầu ở hai bên...

Các nhà kiến trúc xưa của chúng ta đã biết làm mất đi sự đơn điệu do tính đều đặn bằng những biến tấu kết hợp với các tỉ lệ phù hợp. Họ đã phân bố những không gian đóng (mái, tường, cửa), các không gian thưa (lan can) với các không gian trống (những dãy cột thoáng nhìn thấy được cả trời xanh). Mục đích của một sự phân bố như vậy, ngoài yếu tố thẩm mỹ, theo tôi còn nhằm để tạo cho Ngọ Môn mang dáng vẻ một con chim đang dang cánh nhưng lại đậu vững chắc trên một tảng đá vững chãi" (15 )

Trên hệ thống mái của lầu Ngũ Phụng cũng được trang trí rất công phu và tinh tế. ở bờ nóc và bờ quyết đều trang trí hình rồng, giao đắp bằng vôi vữa và sành sứ; cũng như ở mái điện Thái Hòa, có thể xem đây là giang sơn của các loài rồng (dù tên công trình là lầu Ngũ Phụng). Chính giữa bờ nóc toà lầu giữa là bình hồng lô bằng pháp lam sắc vàng rực rỡ; dải bờ nóc ngay bên dưới được trang trí các ô thơ và các vật quý trong bát bửu, hoặc hoa lá biểu trưng tứ quý, tứ thời..theo kiểu “nhất thi nhất hoạ”.Ở các ô hộc khác thuộc bờ nóc, bờ quyết và các đầu hồi của mái lầu còn được trang trí nhiều hình ảnh rồng, giao, dơi ngậm kim tiền, hoa lá... càng làm cho phần mái công trình có vẻ nhẹ nhàng và duyên dáng. Nhìn chung, với cách cấu trúc và trang trí độc đáo, Ngọ Môn tuy là một công trình kiến trúc đồ sộ, có chiều cao đáng kể nhưng người xưa đã tạo cho nó một vẻ đẹp thanh nhã và duyên dáng rất đặc biệt. Điều đáng nói nhất là công trình này rất hoà hợp với cảnh quan xung quanh, với sông Hương, núi Ngự... Với giá trị ấy, có thể xếp Ngọ Môn vào hàng những công trình kiến trúc nghệ thuật xuất sắc nhất của triều Nguyễn nói riêng và kiến trúc cổ Việt Nam nói chung.

No_avatar

Chú thích

1. Amadou Mahta M’Bow, Vì công cuộc bảo vệ, giữ gìn, tu sửa và tôn tạo di sản văn hoá của thành phố Huế. In trong sách Huế-Di sản văn hoá thế giới. Trung tâm BTDTCĐ Huế xuất bản năm 1999, tr.19.

2. Ngay sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng đã bắt đầu tiến hành quy hoạch sắp xếp lại khu Hoàng Thành, đầu tiên là việc dời Hưng Tổ Miếu về phía sau và xây dựng Thế Tổ Miếu (năm 1821) làm nơi thờ các đời vua Nguyễn. Sau đó công việc này kéo dài liên tục hơn chục năm trời, đến năm 1833, khi mọi việc tương đối hoàn chỉnh vua Minh Mạng mới cho hạ giải Nam Khuyết Đài để dựng Ngọ Môn.

3. Căn cứ vào tư liệu của triều Nguyễn, Nam Khuyết Đài được xây dựng vào năm 1804, năm 1806 mới xây ở bên trên đài điện Càn Nguyên, hai cửa ra vào đặt hai bên, gọi là Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn. Cửa này tồn tại đến năm 1833 thì bị triệt giải, nhường chỗ cho Ngọ Môn.

4. Trong sách Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ (KĐHĐSL) có ghi rõ những quy định của bộ Công triều Nguyễn về thành phần của các loại vữa xây, đặc biệt là lượng mật mía trong vữa. Nhưng đến khi xây Ngọ Môn thì lại có sự phá lệ-tăng lượng mật lên để đảm bảo tính bền chắc của công trình: “Lại chuẩn y lời tâu xây dựng cửa Ngọ Môn, công trình quan trọng vôi mật cầndùng chiểu biện quá lệ, cứ 100cân vôi chế 7cân mật; nay cộng 5 cửa, chỗ xây đắp hình bán nguyệt, cứ 100cân vôi thêm 1 cân mật cho được bền vững thêm. Lại xây đắp đá thanh, thì chỗ mặt ngoài phiến đá giáp nhau, chi dầu trẩu ra cho thợ chế luyện để nề trát". Bản dịch của Viện Sử học. Nxb Thuận Hoá, Huế 1993, tr.127.

5 Sách KĐHĐSL cũng có ghi rõ về điều này: "Lại chỉ truyền rằng, lần này nghĩ dựng cửa Ngọ Môn, thì giá gác ngang trên cửa giữa và 2 cửa Tả Hữu giáp môn, đều làm bằng đồng cho được bền mãi. Chuẩn cho Ty Võ Khố lượng chi của công ra, giao đốc công chiểu lĩnh đúc đúng theo cách thức tới kỳ đem làm. Lại chỉ truyền rằng: Trước đã sắc cho bộ (Công) xét các hạng đá dài cần dùng làm cửa Ngọ Môn , chia đưa 2 tỉnh Thanh Hoá, Quảng Nam tìm lấy mà làm, rồi trước hết đem công sức khó dễ phúc tư cho Bộ biết. Nay căn cứ Bộ tâu, hai tỉnh ấy nói, đá núi sản xuất chỉ dài 5,6 thước thôi; đến như các hạng dài hơn 10 thước 8 tấc đều khó tìm thấy được... Vả lại lần này xây cửa Ngọ Môn, để lại lâu dài, phàm chỗ nên dùng đá dài đã chuẩn cho làm bằng đồng, về 2 hạng ấy phải làm hai hạng gấp tức thì đình chỉ. Còn đá hạng ngắn nên đi tìm mua chuẩn cho đều chuẩn theo như Bộ đưa sức làm đủ số, cốt ở trong năm, chuẩn vận chuyển đến nộp, đến kỳ cần dùng". (Sđd, tr125)

6 Thực ra Ngọ Môn cũng đã được tu bổ rất nhiều lần trong thời Nguyễn. Năm 1923, vua Khải Định từng cho hạ giải toàn bộ phần lầu Ngũ Phụng để tu bổ một cách toàn diện. Từ năm 1945 đến nay, Ngọ Môn cũng được tu bổ một số lần. Gần đây nhất, vào năm 1990, thông qua Unesco, Chính phủ Nhật Bản đã tài trợ cho Huế 100.000 USD để trùng tu công trình này.

7 Trước kia chúng tôi đã tưởng rằng, việc vua Gia Long xây Đoan Môn với 2 lối đi (tức dùng số chẳn-số âm) là do ảnh hưởng của phương Tây, tương tự cách trổ 4 cửa mặt trước của Kinh thành, nhưng khi xem lại Khảo Công ký thì thấy cách thức xây cửa thành như vậy là áp dụng theo quy chế dành cho Chư hầu. Vua Minh Mạng không bằng lòng với cách thức này và đã cho triệt giải Đoan Môn để xây Ngọ Môn. Xem thêm Phan Thanh Hải, Cổng/cửa trong kiến trúc cung đình Huế. Tạp chí Nghiên cứu & Phát triển, số 4/2003.

8 Số đo này chúng tôi dựa trên kết quả khảo sát thực tế có tham khảo bản vẽ mặt bằng Ngọ Môn của Nguyễn Phúc Chiêm Nguyên, được KTS,Nguyễn Bá Lăng giới thiệu trên tạp chí Xây dựng, số đặc biệt về kiến trúc Việt Nam. Sài Gòn, 1967. Tr.16-17.

9 Phan Thuận An, Nghệ thuật kiến trúc Ngọ Môn. In trong Sông Hương dòng chảy văn hoá. Nxb Văn hoá Thông tin, 2003, tr.349. Điều này cũng phù hợp với các thông tin từ sách KĐĐNHĐSL: “Lại chuẩn y lời tâu: Sang năm làm cửa Ngọ Môn, ở cửa giữa và hai cửa tả hữu, trên nên dùng xà đồng, cộng 70 chiếc, nên làm cho vừa phải để được vững bền; sức cho đốc công lĩnh đồng đỏ và chì, dùng phép tam thất, đúc thành xà ngang 58 chiếc, mỗi chiếc dài 10 thước 5 tấc, mặt 3 tấc, dày 4 tấc. Về cái giá thẳng ở hai đầu để đở xà ngang 12 chiếc, mặt 3 tấc, dày 2 tấc, làm theo phép tứ lục, để rút bớt lại; đều dự làm trước, để kịp khởi công làm”. Nội Các triều Nguyễn, KĐ ĐNHĐSL, Q.209. Bản dịch của Viện sử học. Nxb Thuận Hoá, Huế 1993. T 13. tr126-127

10 Thái Văn Kiểm trong Cố đô Huế (Nha Văn hoá, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1960, tr.46), cho biết, mỗi chữ Hán này “cao 0m365, rộng 0m38, dầy 0m008, nguyên có bọc vàng thật”. Nhưng phần bọc vàng này bị quân gian gỡ trộm vào ngày 10/12/ 1943.

11 Nội Các triều Nguyễn, KĐ ĐNHĐSL, Q.209. Sđd, T 13  tr116-117. Dưới thời Nguyễn, 1 trượng =10 thước và mỗi thước tương đương 42,4cm. Xin tham khảo thêm Phan Thanh Hải, Hệ thống thước đo Việt Nam thời Nguyễn. Nghiên cứu Huế, tập 5 (2003). 

12 Phan Thuận An, Nghệ thuật kiến trúc Ngọ Môn. Sđd, tr.352-353

13 Liễu Thượng Văn, Ngọ Môn-một biểu tượng của cố đô Huế. Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 17/1996 và Tạp chí Sông Hương, số 10/1996.

14 Chiếc chuông này có khắc một bài Minh, phần lời do các vị quan ở Hàn Lâm Viện, gồm Hoàng Kim Hoán, Ngô Thế Mỹ và Ngô Du biên soạn; Nguyễn Thảng viết chữ. Ty Võ Khố phụ trách việc đúc chuông. Về nội dung bài Minh, Huỳnh Minh Đức trong sách Từ Ngọ Môn đến điện Thái Hoà ( Nxb Trẻ, 1994) đã dịch và giới thiệu. Tr.22-26.

15 Phạm Đăng Trí, Ngọ Mon, la Porte du Midi aux proportions ideales (Ngọ Môn, chiếc cửa của những con số lí tưởng). Etudes Vietnamiennes. 1986, tr. 47-76. Bản dịch của Thuý Vy.

Phan Thanh Hải

 
Gửi ý kiến