Tìm kiếm Tư liệu Giáo dục

Quảng cáo

Hướng dẫn sử dụng thư viện

Hỗ trợ kĩ thuật

Liên hệ quảng cáo

  • (04) 66 745 632
  • 0166 286 0000
  • contact@bachkim.vn

Nhà văn Duy Khán

Scan0038.jpg
Nguồn: Sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Lương Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:31' 20-07-2007
Dung lượng: 119.4 KB
Số lượt tải: 292
Mô tả:

       Tên khai sinh là Nguyễn Duy Khán, sinh ngày 6 - 8- 1934, quê ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh; mất ngày 29 - 01 - 1993. trưởng thnàh cùng đời sống chiến đấu của quân đội, từ một chiến sĩ, một giáo viên, một phóng viên...rồi một đại tá, sáng tác của Duy Khán đã nói lên được tâm sự của người linh sthật chân thành cảm động.

       Tác phẩm tiêu biểu: Trận mới ( thơ, 1972); Tâm sự  người đi ( thơ, 1987); Tuổi thơ im lặng ( truyện, 1986).


Số lượt thích: 0 người
No_avatarf

Nhà văn Duy Khán tên khai sinh là Nguyễn Duy Khán, sinh ngày 06/08/1934, quê ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Duy Khán sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo, học dở dang ở trong vùng tạm chiếm, trốn ra vùng tự do nhập ngũ. Các tác phẩm đã xuất bản: Trận Mới (Thơ 1972), Tâm sự người đi (Thơ, 1984), Tuổi thơ im lặng (hồi ký 1986). Năm 1987 ông được trao tặng giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Tuổi thơ im lặng. Năm 2007 ông được trao giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật cho những đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà.

 

 

 

Tuổi thơ im lặng là cuốn hồi ký đầy xúc động và chân thực của nhà văn Duy Khán viết về những kỷ niệm tuổi thơ. Tác phẩm được xem là bước ngoặt lớn thay đổi cuộc đời cầm bút của tác giả, là một bước đột biến trong sự nghiệp sáng tác của ông. Tập hồi ký xuất hiện năm 1986 đã khiến cho Duy Khán "đang từ một người làm thơ, chuyển sang văn xuôi. Đang từ một người dễ dãi chạy theo các đề tài thời sự, Duy Khán trở lại với cái phần ký ức tuổi thơ nằm sâu và trở nên bền chặt trong tâm tư" (Vương Trí Nhàn - Nhớ lại một cuộc phiêu lưu có hậu - Thể thao và văn hóa, số 59, ngày 25/5/1998).

Có thể nói Tuổi thơ im lặng là tinh hoa một đời văn của Duy Khán “Cuốn sách mỏng chưa đầy 200 trang giấy những có tới mấy chục mẫu chuyện ngắn, có truyện chưa đầy một trang sách nhưng truyện nào cũng cảm động, cũng như chắt ra từ máu thịt của ông”( Trần Bảo Hưng - Nhà thơ Duy Khán mãi mãi thơ trẻ - Tạp chí Hội nhà văn Việt Nam, ra ngày 25/5/2009).

Trong toàn bộ cuốn hồi ký, Duy Khán viết về đời sống riêng, với những ấn tượng, những nỗi niềm riêng của cậu bé Khán. Đó là những kỷ niệm gắn liền với cảnh vật quê hương, xứ sở nơi cậu bé Khán sinh ra và lớn lên. Bức tranh làng quê hiện lên trong nỗi nhớ của nhà văn được miêu tả chân thực đến từng chi tiết. Người đọc luôn có cảm giác như không phải nhà văn đang miêu tả về làng quê của mình mà là đang được chính ông dẫn về thăm quê hương của ông để tận mắt ngắm nhìn và cảm nhận khung cảnh làng quê thanh bình và đầm ấm ấy. Và không phải ngẫu nhiên chuyện đầu tiên của cuốn hồi ký tác giả viết về quê hương và nỗi nhớ đầu tiên nhà văn hướng tới chính là làng quê của mình nơi có đỉnh núi Dạm - Quế Võ - Bắc Ninh. Tác giả đã miêu tả về ngọn núi như một lời giới thiệu về quê hương mình "Đứng ở chỏm núi cao nhất nhìn xuống: núi hoàn toàn là một con rồng. Gọi chung là núi Dạm...". Dưới con mắt trẻ thơ của cậu bé Khán thủa nào, núi Dạm hiện lên như trong câu chuyện cổ tích "Núi trọc đỉnh đầu rồng này có một phiến đá vuông vuông, nhẵn lì, bằng tấm phản hai người nằm. Dân làng bảo đấy là “bàn cờ tiên”. Mỗi tháng, cứ đêm rằm, khi trăng lên đỉnh núi, thì có tám cô tiên bay xuống đánh cờ. Canh năm, gà gáy tiếng thứ nhất, trăng gác non Đoài, tám cô tiên bay về giời. Khi các cô xuống, đỉnh núi ửng lên một màu hồng hồng ...".

Miêu tả về ngọn núi, từ điểm nhìn trên cao tác giả tiếp tục mạch cảm xúc của ký ức, hình ảnh quê hương dần dần hiện lên ngày càng rõ nét. Núi Dạm thì trông giống bàn cờ tiên, rồi núi Ngọc giống như "quả thị bổ đôi", núi cột cờ có cái cột đá sừng sững "mốc thếch, rồng bay xung quanh rêu đóng thành vẩy" có những quả núi "giống hệt bốn con rùa con, từ cổ rùa mẹ chảy ra một luồng nước đỏ như máu, hòa vào ngòi nước thành hai dòng trắng đỏ". Đọc đoạn văn miêu tả về những ngọn núi của quê hương tôi cứ hình dung ra đôi mắt trẻ thơ trong veo đang háo hức, mê say khám phá cảnh sắc làng quê. Trong đôi mắt trẻ thơ ấy, mỗi một ngọn núi, mỗi ngôi chùa đều mang trong mình một câu chuyện cổ tích mà cậu bé Khán đã thuộc làu từ thửa bé.

Làng quê nơi cậu bé Khán sinh ra và lớn lên mang một vẻ đẹp cổ kính, thanh bình như bao làng quê khác của xứ Kinh Bắc. Cậu bé yêu làng quê của mình với một tình cảm hồn nhiên, trong sáng. Nếu như mở đầu cuốn hồi ký là những đoạn văn miêu tả về khung cảnh sông núi với cái nhìn bao quát từ xa đến gần, từ cao xuống thấp thì khi cảnh vật được nhìn cận cảnh khung cảnh làng quê trở nên thân thương quá đỗi. Đó là một cái cổng chùa "ấy là bãi đất bằng, toàn cát. Các ngõ đều qua đây rồi mới ra đồng. Cạnh đó là cái ao. Mùa mưa nước đầy đỏ ngàu màu đất sét..”, là chỗ chôn rau em bé "dưới bụi tre đầy muỗi", là khu vườn nhà với rất nhiều loại cây, mỗi loại cây gắn liền với một kỷ niệm. Đặc biệt nhà văn miêu tả rất chi tiết về khu vườn, bởi đây là nơi tuổi thơ của ông đã trải qua những năm tháng vui buồn, đói khổ bên cạnh bố mẹ và các anh chị em. Trong khu vườn có rất nhiều loại cây, nào là "cây mít sum sê bụ bẫm, đầy cành và lá, ở ngay cạnh vại nước. Bóng nó soi xuống làm cho vại nước suốt ngày thêm trong mát lừ”, nào là "cây đu đủ cao vượt cái tường hoa. Những tàu lá già, vàng, chúng tôi tha hồ cắt cuống mà thổi tu tu. Từng chùm quả”, rồi bốn cây na tượng trưng cho bốn người con trong gia đình " Hè về, hoa thơm lừng rụng xuống sân. Ong, bướm  về bay rợp đầu sân, nhưng nó cũng làm rụng oan nhiều hoa cái. ". Những loài cây tưởng chừng như vô tri vô giác ấy lại chứa trong mình nó một kỷ niệm không thể nào quên trong tuổi thơ của Khán. Cây mít phía sau vườn nhà đứng cạnh cái ang nước nhắc Khán nhớ đến mùa quả chín duy nhất trong đời nó. Hay cây đu đủ bên cạnh tường rào nhắc Khán nhớ đến những tháng ngày đói kém, đến cả rau má cũng không có mà ăn, anh em Khán phải ăn cả thân cây đu đủ cho đỡ đói. Những cây na trong vườn bố trồng cho các con nhưng đến mùa na chín mẹ phải đem bán lấy tiền đong gạo, anh em Khán ăn cả những con sâu đục thân cây na "Sâu trắng nõn, béo mầm. Anh nướng lên ăn, béo ngậy". Những "bữa tiệc" đó của anh em Khán đã đi vào trong trí nhớ như một phần không thể thiếu trong cuộc đời nhà văn.

Làng quê trong ký ức của nhà văn còn gắn liền với hội làng, với những ngày tết rộn ràng trên mỗi ngôi nhà, mỗi ngã đường, mỗi khuôn mặt rạng ngời của người dân quê.Những câu văn như những tiếng reo vui " Tết thật rồi.Tiếng pháo ran xóm Đông, mùi thơm nhập vào mùi thuốc pháo xóm Tây, phả sang xóm Trại, ngây ngất...” Đối với những đứa trẻ không gì vui bằng Tết, đối với trẻ con nhà nghèo Tết là cả nỗi háo hức, mong chờ. Nhiều khi chỉ là mong muốn giản đơn đến tội nghiệp "Chúng tôi no thật là no. Cứ thịt mỡ, dưa hành, bánh chưng mà đả". Không khí ngày tết tỏa ra khắp muôn nơi "Đường cát trắng tinh Kẻ đi giày, người đi guốc, người đi dép da trâu, người đi đất. Áo cánh gián. Áo trắng. Áo nâu non. Quần láng, váy lĩnh, áo the, khăn xếp... rợp. Con giai lớn tuổi mặt hồng vì rượu. Con gái vì giầu cay, môi đỏ như son, đỏng đà đỏng đảnh ". Nhưng vui nhất là hội làng " Ngày đình đám ập đến như một giấc mơ. Cờ thần cờ thánh óng a óng ánh, tua múa quanh cờ, rợp sân đình”. Hội làng mở ra có biết bao điều thú vị, nào là cảnh mọi người tế lễ, nào là hội thi đấu vật, nào là trò chơi đánh đu... Và bức tranh làng quê trong tiết trời xuân được nhà văn miêu tả hết sức sống động, mọi vật như bừng lên một sức sống mới tươi trẻ, đẹp một cách nên thơ "lúa xuân xanh biếc đến chân giời. Gió vờn lúa thành sóng đuổi nhau, cò trắng từng đàn. Chim bồ câu của chú Chàng sinh sôi nảy nở bay rợp giời nghìn, vạn con. Các bác, các anh đô vật và tất cả con giai hai bắp tay nổi lên cuồn cuộn đâu biến thành Thạch Sanh, gương cung, gương nỏ lên giời, những cái gù kim tuyến nghìn màu từ cán cung bay réo lên. Những cô những chị đánh đu ngày Tết và tất cả các chị, các cô trong làng biến thành tiên hay cao hơn lúc bay đu, mây trắng nõn các cô tiên ẩn, hiện, hiện, ẩn".

Phải có một tình yêu đối với quê hương sâu sắc đến nhường nào nhà văn mới có thể tái hiện lên trên từng trang viết hình ảnh làng quê đẹp và xúc động đến thế. Nhà văn không phải đang tả, đang kể về tuổi thơ của mình nữa mà dường như ông đang sống với từng phút giây của kỷ niệm, kỷ niệm về tuổi thơ, về làng quê thân thương của mình.

 

No_avatarf

Thế mới là sưu tầm Thè lưỡi

 

No_avatar

hay

 

No_avatar

can tim tieu su minh hue day ai zup minh zoi

Cười

 
Gửi ý kiến